Bài đăng Phổ biến

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2011

Lạm phát gần 10%, khởi điểm thuế thu nhập vẫn 5 triệu?


- Mức khởi điểm chịu thuế thu nhập cá nhân mà Bộ Tài chính vừa đề xuất là 5 triệu đồng/tháng và cách miễn giảm được nhiều chuyên gia đánh giá là không phù hợp với thực tế. Bên cạnh đó, "mốc" đánh thuế chỉ tính lương danh nghĩa. Còn thu nhập thực tế thì không kiểm soát được. LTS: Bộ Tài chính đã trình Chính phủ phương án sẽ miễn thuế cho người có mức thu nhập đến 5 triệu đồng/tháng. Theo phương án này, đối tượng được miễn thuế khá hẹp, chỉ những người thu nhập đến 5 triệu đồng/tháng được miễn, còn những người có thu nhập đến 10 triệu đồng hoặc thu nhập ở các bậc thuế cao hơn sẽ không được miễn, giảm.
Trong khi đó, một số đại biểu Quốc hội, chuyên gia kinh tế lại cho rằng nên mức khởi điểm chịu thuế thu nhập cá nhân nên gấp 10 lần lương tối thiểu, tức là khoảng 8 triệu đồng, quan trọng hơn là cách thức miễn giảm căn cứ theo mức lương.


Trao đổi về đề xuất mức khởi điểm thuế thu nhập cá nhân 5 triệu đồng/tháng, ông Lê Quốc Dung, Phó Chủ nhiệm ủy Ban kinh tế của Quốc hội cho biết:
Ông Lê Quốc Dung
- Theo quan điểm của tôi, căn cứ từ xây dựng Luật thuế này đã hơn 2 năm, trong khi  mấy năm nay, giá cả liên tục tăng. Giá cả tăng cao như thế, trong khi theo Luật thì mức khởi điểm chỉ là 4 triệu. Nếu căn cứ theo đề xuất của Bộ Tài chính nâng mức khởi điểm chịu thế từ 4 triệu đồng lên 5 triệu đồng, tức là tăng mức khởi điểm lên 25% nhưng nếu so với mức lạm phát thì vẫn chưa ổn.
Năm 2008, lạm phát là 19%. Năm 2009 là khoảng 7%. Năm ngoái là khoảng 12,5%. Nếu lấy năm 2007 là mốc thực hiện thuế với mức khởi điểm là 4 triệu đồng thì mới tăng lên 25% mà riêng 3 năm qua, lạm phát đã cao đến thế, trong khi đó 4 tháng đầu năm lạm phát đã gần 10%.
Như vậy, mức khởi điểm chịu thuế là 5 triệu đồng không phù hợp với thực tế, vì thực tế giá cả đã vượt lên rất nhiều. Cho nên, nếu đề xuất như vậy  thì đời sống của người dân khó khăn thêm.
Quản lý được lương, mất kiểm soát thu nhập?
- Như vậy nếu như sửa đổi luật thuế, điều gì nên được quan tâm? Có thể tính đến câu chuyện đánh thuế dựa trên mức thu nhập được kiểm soát dưới danh nghĩa lương mà chúng ta đang làm, chứ không phải là xác định cứng một  mức cố định 4 triệu hay 5 triệu đồng như Bộ tài chính đề xuất không, thưa ông?
Ông Lê Quốc Dung: Hiện nay, lương hình thức, tất nhiên chúng ta rất khó để đánh giá. Vì lương của chúng ta là lương danh nghĩa không phải lương thực tế,  trong khi thực tế cuộc sống của người dân không phải như thế.
Cho nên những người có mức lương từ 5 triệu đồng trở lên thì lại rơi vào những bộ phận tưởng như thế là cao. Nhưng cũng có những người tưởng rằng lương thấp thì thu nhập thực tế lại cao hơn rất nhiều.
Theo tính toán thì với mức đề xuất của Bộ Tài chính, người thụ hưởng chỉ được miễn 50.000 đồng/tháng. Cụ thể, nếu hiện nay người có thu nhập đến 5 triệu, với mức thuế bậc đầu tiên là 5%, họ chỉ phải đóng thuế khoảng 50.000 đồng (do được giảm trừ 4 triệu cho bản thân nên chỉ phải nộp thuế trên số tiền 1 triệu còn lại).
Bây giờ cách mà chúng ta đánh giá và xác định "mốc" đánh thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào lương danh nghĩa này. Còn lương không danh nghĩa, tức là thu nhập thực tế thì chúng ta không kiểm soát được cho nên đánh thuế theo cách đang làm là bất hợp lý. Bây giờ bảo những người có lương 5 triệu hay 6 triệu đồng/tháng là đời sống cao cũng chưa phải. Nhưng bảo những người có mức lương 2 triệu đồng - 3 triệu đồng/ tháng là đời sống thấp cũng chưa phải. Bởi vì chẳng qua chỉ lương là danh nghĩa.
- Vậy, quan điểm của ông khi sửa Luật thuế này là như thế nào?
Ông Lê Quốc Dung: Quan điểm của chúng tôi là phải nghiên cứu kỹ để mà sửa, chứ còn bây giờ không thể dịch theo tỷ lệ mà tỷ lệ lại dựa trên những căn cứ không thực tế, không phản ánh thực tế cuộc sống. Làm như thế là  hình thức, là giả tạo và rất là không chuẩn mực. Phân tích như thế để nói rằng, chính sách lương cơ bản hiện nay không cơ bản và rất bất hợp lý. Đồng thời việc đánh thuế  thu nhập theo con số danh nghĩa cũng không thực tế, không đầy đủ và khó đem lại tác động đúng.
Cho nên, nó cũng chỉ đúng được một phần. Còn bảo nó chưa đúng thì cũng chưa chuẩn. Tôi ví dụ nói cùng trong một ngành thôi, hay cùng trong một cơ quan, hay cùng trong một bộ chẳng hạn, lương danh nghĩa có khi rất thấp nhưng mà người ta lại có nhiều nguồn thu khác. Thế làm sao mà kiểm soát được? Cứ dựa vào hệ thống lương bảo thủ rất là cũ kỹ, rất không phù hợp. Bây giờ cứ như thế mà đánh thuế thu nhập cá nhân thì phù hợp. Chúng tôi không đồng tình, mà tôi cũng đã phát biểu ở quốc hội là chính sách lương của chúng ta rất bất cập.
Mức khởi điểm thuế thu nhập cá nhân bao nhiêu là hợp lý? Ảnh minh họa: Việt Thanh
- Nhưng về cơ bản, để kiểm soát được thu nhập của người dân, không chỉ dựa vào việc sửa luật, vấn đề là "cơ sở hạ tầng tính thuế" và các điều kiện để kiểm soát thu nhập của chúng ta chưa đồng bộ?
Một số đại biểu Quốc hội, chuyên gia cho rằng mức khởi điểm chịu thuế thu nhập cá nhân nên gấp 10 lần lương tối thiểu, tức là khoảng 8 triệu đồng, quan trọng hơn là cách thức miễn giảm căn cứ theo mức lương.
Ông Lê Quốc Dung: Bây giờ cải cách lại chế độ lương và phải kiểm soát được tất cả các nguồn thu nhập. Điều này chúng ta cố gắng làm bằng nhiều cách. Kể cả vấn đề thông qua tài khoản ngân hàng, thông qua thẻ, rồi thông qua các hệ thống trên công nghệ thông tin... Tất cả các hoạt động thu nhập của người lao động, của công chức phải được kiểm soát một cách đồng bộ, chứ không để tình trạng, cả xã hội tiêu tiền mặt như hiện nay.
Cái gốc của vấn đề là hiện nay chúng ta chưa xây dựng một hệ thống chính sách cơ bản đúng. Chúng ta không kiểm soát được thu nhập thì sao khẳng định được thu nhập đó là đúng. Nhưng bây giờ có những bộ phận chúng ta đã nói thu nhập chỉ 5 triệu đồng/tháng, liệu có đúng 5 triệu đồng không?
Tôi cho rằng phải sửa vài bộ luật liên quan luôn, từ  luật lương cho đến kiểm soát thu nhập của tất cả mọi tầng lớp dân cư, tất cả mọi lĩnh vực. Trên cơ sở ấy mà đánh giá thuế thu nhập cá nhân. Còn không thì cơ quan chức năng chỉ đánh giá thu nhập của những người có thu nhập cao để mà kiểm soát và thu thuế.
- Xin cảm ơn ông!

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

Ngày 30 tháng Tư 1975: Một cái nhìn mới


 
Đã gần 40 năm qua, người Việt Quốc-gia gọi biến cố 30-4-1975 là ngày quốc-hận. “Hận” này, theo tôi hiểu là “hận” mất nước. Nhưng phong trào xét lại lịch-sử Chiến-tranh Việt-nam (CTVN) khởi đầu từ thập-niên cuối của Thế-kỷ 20 đã đánh đổ những sai-lạc về thực-chất của cuộc chiến do bộ máy tuyên-truyền của Đảng CSVN và các thế lực quốc-tế chủ-trương.[1] Ngày nay có nhiều bằng-chứng cho thấy biến-cố 30 tháng 4 năm 1975 chỉ là một khúc quanh trong cuộc chiến quốc-cộng: Ngày 30-4-75 không những đã làm cho chính-nghĩa quốc-gia trở nên sáng chói mà còn báo hiệu giai đoạn mở đầu cho chiến thắng cuối cùng của những người Việt-nam yêu-chuộng tự-do chống lại chế-độ độc-tài Cộng-sản và chủ-nghĩa Cộng-sản vô thần, vô tổ-quốc và vô gia-đình.

1- Biến-cố 30 tháng 4 là ngày quốc-hận ?

Tại sao lại có biến-cố 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà phe Cộng-sản Việt-nam tiến vào thủ-phủ của người quốc-gia như chỗ không người? Xin trả lời ngắn gọn là: Vì người Mỹ đã đi đến quyết định là sự tiếp-tục tồn tại của một chính-quyền quốc-gia trên bán đảo Đông-dương đã trực-tiếp phương hại đến quyền lợi và chính sách của Hoa-kỳ trong chiến-tranh lạnh.

Đến nay có nhiều bằng chứng cụ-thể cho thấy người Mỹ đã quyết tâm hủy-hoại mọi cơ-hội chiến thắng Cộng-sản Hà-nội của phe người Việt quốc-gia. Sol Sanders một bình luận gia chính-trị quen thuộc tiết-lộ: “Washington đã chiến-thắng trong cuộc chiến tại Việt-nam cho đến khi Henry Kissinger và nội-các Nixon trong giai-đoạn “détente”, đã vận-động hậu-thuẫn tại quốc-hội Mỹ và Moscow, nhằm cắt đứt viện-trợ quân-sự cho Quân-lực VNCH sau khi đã biến guồng máy chiến tranh này lệ-thuộc hoàn toàn vào viện-trợ của Hoa-Kỳ.”[2] Trong khi đó Robert F. Turner, cựu Giám-Đốc của Center for National Security, tiết-lộ trên tờ Washington Times rằng “Quốc-Hội Hoa-kỳ đã hành động sai lầm vì đã nghe theo TNS Ted Kennedy (Massachusett) và Đảng Dân-chủ, khiến chúng ta bị thất-bại bất ngờ trong khi chiến thắng đã gần kề.”[3] Thật ra đây chỉ là một cách chạy tội, đổ lỗi qua lại.

Các nhà làm chính sách của Hoa-kỳ đã chủ-trương rằng để cho Đảng CSVN cai-trị Việt-nam, mối giao hảo giữa Hoa-kỳ và Trung-quốc sẽ được hàn-gắn lại và sẽ làm cán cân quân-bình lực lượng trong chiến tranh lạnh nghiêng hẳn về phía thế-giới tự-do. Peter Rodman, Phụ-Tá của TS Kissinger đã nhìn nhận rằng “Nixon/Kissinger đã bỏ Việt-nam để đổi lấy mối giao-hảo Hoa-kỳ – Trung-quốc và sau đó dùng Trung-quốc để chống lại Nga-sô.”[4] Đặc biệt, một tài liệu mật gồm 28,000 trang đã cho thấy TS Kissinger, một nhà làm chính-sách và cũng là một nhà thương-thuyết, đã sắp đặt để quân-đội Bắc-việt tiến vào chiếm miền Nam sau khi Ông đưa quân Mỹ rút ra khỏi miền Nam.[5]

Như vậy sự-thật về cuộc chiến quốc-cộng trong giai đoạn 1954-1975 là quân-đội quốc-gia không thua quân-đội cộng-sản. Nhưng về mặt chính-trị, áp lực mạnh mẽ của quốc-tế vì muốn đưa Đảng Cộng-Sản Việt-nam lên cai-trị toàn bộ nước Việt-nam, người Mỹ đã phá-hỏng mọi cơ hội bảo vệ tổ-quốc Nam Việt-nam của phe người quốc-gia. Để có thể tiếp-tục cuộc chiến một mất một còn với ĐCSVN, ngày 30 tháng 4 năm 1975 phe quốc-gia bị bắt buộc phải tái-phối-trí chiến lược, lìa bỏ quê-hương. Chúng ta chưa mất nước vì những người tin tưởng vào chính nghĩa quốc-gia vẫn còn đó, quê-hương vẫn còn đó, đầu-não lãnh-đạo cuộc chiến vẫn còn đó. Nguyễn Ánh chạy qua Xiêm rồi trở về dựng lại cơ-đồ. De Gaulle cũng không để mất nước Pháp khi phải chạy qua Anh. Như vậy có nên gọi biến-cố 30-4-75 là ngày mất nước không?

2- Ngày 30-4-1975: Ngày “Ô-Nhục” của tổ-quốc Việt-nam?

Kể từ ngày 30-4-1975, ĐCSVN lên nắm chính-quyền, mọi người dân Việt đã sống và chứng-kiến tận mắt một giai-đoạn lịch-sử đen tối nhục nhã chưa bao gìơ có trong lịch-sử dựng nước và giữ nước của Ông cha. Đây là quan-điểm của những người Việt đang sống ở Việt-nam, của sinh-viên du-học, và của lớp trẻ lớn lên ở hải-ngoại trở về Việt-nam để kinh doanh.

Nhà-văn Trần-Như, người đang sống ở trong nước nhận định về xã-hội Việt-nam dưới sự cai-trị của ĐCSVN như sau:

“Giặc Tầu đô-hộ nước ta một ngàn năm không ai vong thân, không ai lẫn lộn căn cước. Giặc Pháp đô-hộ Việt-nam một trăm năm, dân Việt vẫn là Việt-nam. Giặc Hồ mang học thuyết cộng-sản vào cai-trị nước ta mới có 60 năm dân bị lẫn lộn căn cước và vong thân. Xã hội Việt-nam từ khi lập quốc cho tới nay chưa có thời nào suy đốn như thời Hồ.”[6] Nói một cách dễ-hiểu, NHỤC là vì người dân trên đất Việt ngày nay không còn văn-hóa không có nhân-phẩm; họ đang sống như một con vật vì con vật không có văn-hóa và nhân phẩm.

Còn tổ-quốc và đất đai đã bị ĐCSVN vừa bán vừa dâng hiến cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Trung-quốc.Văn-hóa còn dân-tộc còn. Trong hơn 1000 năm Tầu đô-hộ “không ai vong-thân, không ai lẫn-lộn căn-cước” vì phong tục tập quán của Việt-nam sau lũy tre xanh vẫn được duy-trì, dân chúng không bị Tầu-hóa. Nhưng năm 1954 tại miền Bắc, ĐCSVN đã phá-hủy toàn bộ lũy tre-xanh bao bọc hệ-thống làng-xã tự-trị để thành-lập những nông-trường tập-thể với máy cầy Liên-sô xây dựng xã hội chủ-nghĩa. Trong đó mọi người vô-sản ăn cùng, ngủ cùng, làm cùng. Lẫn lộn căn cước là vậy. Vong thân vì Cộng-sản coi con người chỉ là công cụ sản-xuất bị tước đoạt nhân-phẩm nên chỉ còn là con vật. Đây là một lối-sống hoàn toàn xa-lạ đối với nếp-sống Việt-nam. ĐCSVN đã hủy-diệt văn hóa, lịch-sử, ngôn-ngữ cũng như linh-hồn Việt-nam để giúp Trung-quốc dễ bề nô-lệ hóa dân tộc. Văn-hóa mất dân-tộc mất. Nhục vì lịch-sử oai-hùng đối-kháng giặc phương Bắc của Ông-Cha đã bị kẻ nội-thù ĐCSVN “rước voi về” xóa bỏ tất cả.

Công dân Việt-nam Hà-Sĩ-Phu tóm-tắt kết qủa công-trình xây-dựng Xã-Hội Chủ-Nghĩa của ĐCSVN như sau: “Dân tộc phải đương đầu với một cuộc tổng khủng hoảng nhân cách! Xã hội đang lộn ngược do thang gía-trị lộn ngược. Chủ-nghĩa vô hồn tạo ra một khoảng trống ghê-rợn về văn-hóa, lý-tưởng và nhân cách.”[7]

Một sinh viên VN sang du-học tại Úc trong đợt đầu tiên khi Việt-nam vừa mở-cửa đổi mới, tâm-sự với tôi: “Chú ơi khi ra tới ngoài này, chúng cháu không dám nhận mình là người Việt-nam nữa!” Chính hậu-qủa cai-trị của một tầng lớp lãnh đạo thiển-cận giáo-điều đã làm sinh-viên này thấy xấu-hổ vì mình là người của một nước nghèo đói và chậm tiến nhứt thế-giới.

Những cảm nhận này của các du-học-sinh đã được Anderson Quách thấy tận mắt và kể lại rất đầu đuôi xúc-tích. Anderson là một cậu bé tị-nạn đến Mỹ lúc mới 5 tuổi và trở lại Việt-nam làm ăn vào tháng 10 năm 2007 với hy-vọng đầu-tư để phát-triển đất nước. Tuy nhiên sau 2 năm đắn đo tìm hiểu, Anderson mất 200,000 đô mà vẫn không thực hiện được mục đích của mình đành phải bỏ cuộc trở về Mỹ. Anderson nhận xét, lãnh đạo Việt-nam hiện nay không những bất-tài mà còn bất-tín và thiếu đạo-đức. Hậu qủa là một xã-hội băng hoại chờ đợi ngoại-nhân đến tiếp-quản. Về Hồ-Chí-Minh, “Tôi nhận ra rằng hai vị anh-hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa mà chế-độ đã dùng mọi thủ-đoạn để biến họ thành thần-thánh, giúp cho họ gĩư vững địa vị và quyền hành. Đọc kỹ tiểu sử của Hồ Chí Minh sẽ tìm thấy một chính-trị-gia qủy-quyệt, nhiều mờ ám, dù nhìn ở bất cứ góc độ nào . . . Ông tự viết tiểu-sử để ca-tụng mình (Trần Dân Tiên), không nhìn nhận cha-mẹ, cũng như 12 đứa con rơi rớt từ các cuộc tình khắp thế-giới, viết đơn cầu xin thực dân Pháp với những lời tang bốc trơ trẽn (lá thơ gởi Quan Toàn Quyền Pháp năm 1912), làm mật-vụ cho Nga, khoe là trọn đời độc-thân để phục-vụ tổ-quốc trong khi có ít nhất 3 người vợ. . . Chuyện Ông thủ-tiêu không biết bao nhiêu là đối-thủ chính-trị có thể hiểu được vì Ông làm chính-trị kiểu Cộng-sản, chỉ biết theo gương bậc thầy như Stalin hay Mao. Nhưng tôi thật khó chịu khi phải đi khắp Việt-nam và nhìn những biểu-ngữ ca tụng “tấm gương đạo-đức của Bác Hồ”.

Anderson viết tiếp: “Sau 1 năm ở Việt-nam, tôi hiểu được một sự thật căn bản của xã-hội: Tất cả mọi con người, mọi con số đều là gỉa-dối. Quan chức nói dối để giữ quyền hành bổng lộc; doanh nhân nói dối vì quan chức đòi hỏi; người dân nói dối vì nói sự thật sẽ làm mình đau-khổ rồi còn bị công-an bắt. Nói dối trở thành một hiện tượng tự-nhiên, như ăn uống, không ai suy nghĩ thêm về khía cạnh đạo-đức của hiện-tượng này.”[8]

Ngoài cái nhục không được làm người đúng với phẩm gía con người ở ngay trên đất nước của mình, dân-tộc hiện nay còn phải chịu cái nhục lớn nhất từ xưa đến nay, đó là “hồn-thiêng sông-núi” đã bị người cộng sản đặt lên “mâm” để trước bàn thờ cúng “Bác Mao”. Thay vì lãnh-đạo đất nước bảo vệ sự toàn-vẹn lãnh-thổ, thì ĐCSVN lại cúi-đầu nhận làm “thái-thú” cho ĐCS Trung-quốc; họ sợ mất Đảng hơn mất nước.[9]

Nhân dân Việt-nam phản đối Trung-Cộng chiếm Hoàng-Sa và Trường-Sa lại bị chính-quyền của mình đàn-áp tàn nhẫn. Đảng-viên Phạm Đình Trọng viết: “Ý thức dân-tộc bị coi nhẹ đến đau lòng còn biểu hiện ra trong việc làm trong hành-xử của nhà nước với dân. Thanh -niên sinh-viên học-sinh tập họp trước sứ-quán Trung-Hoa, ôn-hòa phản đối Trung-Hoa sát nhập quần-đảo Hoàng-sa, quần-đảo Truờng-Sa vào lãnh thổ Trung-Hoa. Đó là nền văn-minh Lạc-Việt lên tiếng, là ý-thức dân tộc Việt-nam lên tiếng! Nhà nước dùng công-cụ bạo-lực trấn-áp tiếng nói chính đáng của nền văn-minh Lạc-Việt, trấn-áp ý-thức dân-tộc chính-đáng của nhân-dân . . .”[10]

Rồi vào tháng 12, 2007, khi bị Hồ Cẩm Đào điện thoại trách mắng về việc để sinh-viên Việt-nam biểu-tình phản đối Trung-Cộng xâm chiếm lãnh-thổ, Tổng Bí-Thư Nông Đức mạnh liền thề-thốt rằng “Vì tình hữu-nghị đời-đời bền vững với Trung-quốc, lãnh đạo Việt-nam sẵn sàng dâng-hiến tất cả.” Có nghĩa là ĐCSVN đã sẵn-sàng làm nội-ứng tay-sai biến Việt-nam thành một chư hầu của Trung-quốc với những bước đi cụ thể như: dâng hiến 789 cây-số vuông đất-đai thuôc Cao-bằng và Lạng-sơn; bán 11,000 cây-số vuông trên biển và chủ-quyền của hai quần-đảo Hoàng-sa và Trương-sa; giao dự-án khai thác quặng “bo-xit” trên Tây-Nguyên cho Tầu và 20000 công nhân người trung-quốc; cho phép người trung-quốc tự do đi lại ở Việt-nam từ Lạng-sơ đến mũi Cà-mâu (không cần hộ chiếu).

Nếu qúi độc-gỉa chưa thấy rõ cái “nhục” mà Trung-cộng cố tình gây ra cho dân Việt, tôi xin nhắc lại mấy trường hợp sau đây. Dân ta đánh-cá trong hải-phận Việt-nam bị tầu Trung-cộng đuổi đi sau đó còn bắn chết người và đánh chìm tầu của người Việt. Đặc biệt lúc ấy chiến-hạm Việt-nam chỉ đứng nhìn như không có chuyện gì xẩy ra. Sau đó Trung-cộng nói đấy là sự thỏa thuận chung.[11] Vào ngày 29 tháng 4 năm 2008, khoảng 200 thanh niên Trung-cộng mặc đồng-phục Olympic 2008 với cờ quạt ngang nhiên kiêu hãnh diễn-hành tại thành-phố Hồ-Chí-Minh. Trước tòa Đại-sứ Trung-quốc ở Hà nội, có khoảng 30 thanh-niên Trung-quốc biểu-tình hô khẩu-hiệu “Hoàng-sa và Trường-sa là của Trung-quốc”; không có chuyện gì xẩy ra. Nhưng khi sinh-viên Việt-nam biểu tình chống Trung-cộng chiếm Hoàng-sa và Trường-sa thì lại bị nhà cầm quyền Việt-nam đàn-áp bắt bớ. Không nhục sao?

Mới đây ĐCSVN còn cho dịch ra tiếng Việt cuốn sách của Trung-Quốc, “Ma Chiến-Hữu”, ca-ngợi quân-đội Trung-quốc anh-hùng trong trận chiến Việt-Trung năm 1979. Sách dịch ra tiếng Việt lập tức được cho phổ biến khắp Việt-nam. Trong khi đó sách Việt ca-ngợi anh-hùng VN và chống Trung-quốc lại bị thâu-hồi? Báo-chí và dân-chúng không được phép dùng chữ “Trung-cộng” để chỉ “Trung-quốc”! Như vậy có nhục không?

Bằng chứng viện dẫn cho thấy biến-cố 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu ngày ĐCSVN đưa dân chúng Việt-nam vào một cuộc sống ô-nhục, ngang với loài vật. ĐCSVN lãnh-đạo, xóa căn cước Việt của người dân, đưa đất nước vào vòng nô-lệ Trung-cộng. Một chuyện chưa từng xẩy ra trong lịch-sử nước Việt. Nếu người dân Đức coi bức tường Bá-Linh là bức tường “Ô-Nhục”, dân-chúng Việt-nam phải gọi ngày 30-4 là ngày “quốc-nhục” mới thật đầy-đủ ý-nghĩa và đúng.

3- Biến-cố 30-4-1975: Một khúc quanh trong cuộc chiến quốc cộng

Nghị-trình duy nhất và vô cùng cấp-bách của cộng-đồng tị-nạn Việt-nam tại hải-ngoại hiện gìơ chính là “Cái nhục của chậm tiến và cái họa nô-lệ Tầu-cộng” của Việt-nam dưới sự cai-trị của ĐCSVN. Trong ý-nghĩa này, ngày “quốc-nhục” tiếp-tục nhắc nhở những ngừõi yêu-chuộng tự-do rằng cuộc-chiến “quốc-cộng” vẫn còn đang tiếp-diễn. Nhưng hiện-nay cán-cân quân bình lực lượng đã nghiêng hẳn về phe người quốc-gia. Kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, ĐCSVN đã để lộ ra bộ mặt thật của họ khiến cho chính-nghĩa của phe quốc-gia trở-nên mạnh-mẽ và sáng chói hơn bao gìơ hết. Đúng như tướng Do Thái Ông Moshe Dayan nhận định trong chuyến thăm viếng Nam Việt-nam: “Nếu muốn thắng cộng-sản, Miền Nam phải thua Cộng-sản trước đã.”

Trong khoảng từ 1930 đến 1975, Cộng-sản Việt-nam đội lốt Chủ-nghĩa Dân-tộc để đánh lừa người Việt yêu nước và dư-luận thế-giới. Nhưng từ 1975 đến nay họ đã hiện nguyên hình là một đảng say mê quyền-lực, một đảng cướp. Họ thi hành triệt để giáo điều Mac-xit Lenin-nit để củng cố quyền-lực và ăn cướp bóc-lột của dân-chúng qua các chính-sách cải-cách ruộng đất, kiểm-kê và đánh tư-sản, trăm hoa đua nở, chế-độ lý-lịch “đào tận gốc tróc tận rễ”, hợp tác xã sản-xuất, nông-trường tập-thể, làm theo chỉ-tiêu hưởng theo nhu cầu, vân vân . . .

Cái chính-nghĩa dân-tộc mà ĐCSVN dung làm bình-phong để lừa-gạt những người yêu-nước từ trước đến gìơ đã bị chính lãnh-tụ Hồ-Chí-Minh vô tình đạp đổ. Trong lúc hấp hối Bác Hồ đã thổ-lộ với các đồng-chí trong Bộ Chính-Trị là mình sẽ đi gặp “Bác Stalin và Cụ Lênin!” “Dân-tộc” gì mà khi sắp chết lại không muốn gặp Lê-Lợi, Hưng Đạo là các anh-hùng dân tộc, hay Ông Bà tổ-tiên của mình mà lại đòi về với mấy người Nga? Vì thế ĐCSVN đã mất cái thế nhân-dân. Chính-quyền và cán bộ hiện nay đều chân trong chân ngoài để tháo chạy vì tổ-chức của ĐCSVN đã hoàn toàn phân-hóa rữa nát, mất định-hướng, nơm nớp lo sợ diễn tiến hòa-bình.

Chính lời trăn-trối của Hồ Chí Minh phủ-nhận chính-nghĩa dân-tộc và trao cái thế nhân-dân lại cho phe quốc-gia. Rồi “cái họa nô-lệ Tầu và cái nhục không được làm người” do hậu qủa cai-trị của ĐCSVN từ 1975 đến nay đã trao thế chủ-động trong cuộc chiến quốc-cộng vào tay của phe người quốc-gia. Tóm lại thực-tế “tự hủy-diệt” của phe Cộng-sản đã mở đường đưa phe quốc-gia vào thế thượng-phong và chiến thắng cuối cùng.

Thêm vào đó, Cộng-đồng người Việt hải-ngoại hiện nay như Cựu Đại-sứ Lâm-Lễ-Trinh phân tích có một tiềm lực kinh tế, chính-trị, giáo-dục và trí-tuệ hơn hẳn tổ-chức chính-quyền của nhà nước XHCN Việt-nam. Ví-dụ như tổng-sản-lượng quốc-gia của Việt-nam vào năm 2001 là 14.5, tỉ trong khi đó lợi-tức của 3 triệu người tị-nạn là 15 tỉ.[12] Số tiền của hải ngoại gởi về giúp bà con hiện nay đã lên đến gần 7 tỉ tức là xấp-xỉ 1/2 tổng sản lượng của cả nước. Điều đáng lưu-ý là trong số 3 triệu người này lại có một lực lượng chuyên-viên lỗi-lạc trong mọi lãnh vực lên đến 300,000 người. Theo Ông Lâm Lễ Trinh, đây là một con số thống kê chưa từng thấy tại các nước ĐNA.

Cuối cùng, một điều rất hiển nhiên cần lưu-ý đó là thời-cơ và thế ngoại vận của phe người Việt quốc-gia đang làm cho chế-độ độc-tài CSVN tuyệt-vọng. Về thời cơ chẳng hạn, cuộc cách mạng tin học và trào lưu “toàn-cầu-hóa” hoàn toàn không thuận lợi cho các chế-độ độc-tài. Vì thế tiến trình dân chủ-hóa Việt-nam sẽ không thể nào đảo ngược được. Phe người Việt quốc-gia, khởi đầu với nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa tại miền Nam Việt-nam do Ông Ngô Đình Diệm lãnh đạo, chủ-trương xây dựng một chế-độ dân chủ đích-thực. “Xã-hội khép kín” của ĐCSVN đã bị cuộc cách-mạng tin-học và cơn-bão “toàn cầu hóa” mở tung ra và còn đang tiếp-tục mở rộng hơn nữa với những phong trào đòi dân-chủ ở trong nước bắt tay làm đầu-cầu cho hải-ngoại tiến vào mở trận-đánh cuối-cùng: ĐCSVN gọi đó là “Diễn tiến Hòa-bình”. Bây giờ chính là thời cơ của phe yêu-chuộng tự-do và độc-lập thực-sự của dân-tộc vì cả thế-giới hô hào dân-chủ-hóa.

Thế thượng phong của hải-ngoại về mặt trận ngoại-giao lại càng rõ rệt hơn. Trong thời chiến, Nam Việt-nam bị Hà-nội cấu kết với các cường quốc để tạo ra những phong-trào phản-chiến trên thế-giới, vận-động mua chuộc đại-diện dân-cử tại các quốc-hội trên thế-giới và những cuộc trao đổi quyền-lợi đội lốt các hiệp-định Geneve 1954 và Paris 1973. Ngày nay chính người tị-nạn đang dùng “gậy ông đập lưng ông” trả lại ĐCSVN những gì họ đã làm trước đây. Các lãnh đạo và đại-diện ngoại-giao của Việt-nam hiện nay mỗi khi thăm viếng để xin-xỏ một điều gì ở các quốc-gia có người tị-nạn, đều phải trốn chui trốn nhủi không dám đi vào cửa chính. Người Việt quốc-gia ở hải-ngoại hiện nay ngoài các hoạt-động về kinh-tế xã-hội kỹ-thuật giáo-dục, đã bắt đầu tích-cực tham gia vào các cơ chế dân-cử sẵn-sàng dùng các phương thức dân-chủ hiến định để đập tan những hành động gian manh của CSVN tại các quốc gia này. ĐCSVN đang ở vào thế “tứ bề thọ địch”!

4- Thay lời kết

Việc ĐCSVN bán đất bán biển và làm tay sai cho chủ-nghĩa bành-trướng của Trung-Cộng đang đẩy mạnh và làm cho trận-chiến cuối cùng giữa hai phe “quốc và cộng” bùng nổ sớm hơn người ta tưởng. Nhờ vào kỹ thuật tối tân của tin học, những gì mà ĐCSVN cố tình dấu-diếm đã được thế-giới bên ngoài, chính xác hơn là cộng-đồng người Việt tự-do hải ngoại, biết đến. Ví-dụ bí-mật về vụ bán biển được gởi ra quốc-ngoại từ email ngày 20 tháng 8 năm 2008 gồm cả bản Anh-ngữ lẫn Việt-ngữ và đã được Đại-Tá Phạm Bá Hoa trích dẫn như sau: “. . . Ngày 25 tháng 12 năm 2000, Chủ-tịch Trần Đức Lương sang THCS gặp Chủ-tịch Giang Trạch Dân và hai bên cùng ký hiệp ước. Theo đó VNCS bán một phần biển cho THCS với gía 2,000,000,000 mỹ kim (2 tỉ), và THCS trả cho Việt-nam dưới hình thức đầu-tư . . . . .”[13] Nhờ đó, hải-ngoại mới hay biết sự việc và đang vận dụng mọi tài nguyên sẵn có để bổ túc tiếp cứu cho những gì mà kẻ-sĩ trong nước đang bị kềm-kẹp không thể phản-ứng hữu-hiệu được.[14]

Một cây viết trong Việt-nam (có lẽ cũng là 1 đảng viên cao cấp) với bút-hiệu “Người Buôn Gío” tung lên “net” bài viết báo động mất nước. Ông cho biết vì những khó-khăn dưới chế-độ CS, kẻ-sĩ đành bó tay, không thể làm tròn sứ mạng “thất-phu hữu-trách”. Theo Ông, việc ĐCSVN gạt bỏ mọi can-ngăn tự quyết-định để THCS khai thác quặng bo-xit trên Tây-Nguyên chính là muốn mở đường cho người Tầu đào “mồ chôn nước Việt”. Ông cho rằng vấn đề Hoàng-sa và Trường-Sa rồi cũng thế:

“Nếu Tây-Nguyên đã là phần của người Trung-quốc làm ăn, thì việc tranh cãi về Hoàng sa – Trường sa có thể đoán kết-qủa là vô-nghĩa. Không phải ngẫu nhiên mà khi các nhà sử-học Bắc-kinh được tài-trợ quy-mô, bài bản để sưu-tập tài-liệu hay chế-biến lịch-sử để chứng minh chủ-quyền các hải-đảo đó là thuộc về họ. Chính-phủ Việt-nam vẫn bình chân như vại, một số nhà tâm-huyết do điều kiện hạn-chế chỉ sưu-tầm tìm hiểu trong khả năng của mình, kinh phí tự-túc do bản thân bỏ ra. Thậm chí việc Hoàng sa-Trường sa không được báo chí nhắc đến là khó khăn cho những trí-thức và học-gỉa trong qúa-trình tìm tòi tài-liệu, vô hình chung biến hai quần-đảo này thành đề tài bí-mật không được bàn tán công khai.”[15]

Nhờ chủ-trương tài-trợ quy mô của Bắc-kinh cho các nhà sử-học, THCS đã có được bài bản để hỗ-trợ về mặt công-pháp cho âm mưu bành-trướng của họ tại biển Đông. Ví-dụ họ sửa lịch-sử, viết sách nói rằng Hoàng-sa Trường-sa là của Trung-quốc rồi đưa vào trường học để dậy cho học-sinh Việt-nam; họ vẽ ra bản đồ lãnh-hải 12 hải-lý để bao gồm các quần đảo nói trên; họ đặt ra tên mới cho hai quần đảo này là Huyện Tam-sa và thuộc về tỉnh Hải-nam của Trung-quốc; họ xây cất các hạ-tầng cơ-sở kể cả phi-đạo và hải-cảng; họ đem những giống cây lục địa ra và trồng ở đó; quân-đội cũng được điều động ra đồn trú. Về mặt tuyên-truyền họ bắt đầu lên-tiếng tuyên bố Chủ-quyền của Trung-quốc trên các hòn-đảo này; họ cho công bố bản-đồ; cho người biểu-tình ủng-hộ; ra lệnh cho ĐCSVN bịt miệng những người nói ngược lại. Ví-dụ như “Văn-thư đề ngày 7-12-07 cấm sinh-viên biểu-tình của Phó Hiệu-trưởng Đại-học Công-nghệ Hà-nội, Ông Hà Quang Thụy, Bí Thư Đảng-ủy . . . . Văn thư đó còn đòi các thủ-trưởng phải góp-phần vào việc ngăn-chận biểu-tình.”[16]

Báo-chí hải-ngoại và “internet” là một nguồn thông-tin dồi-dào về các tin tức liên-quan đến cái xã-hội bị bưng-bít ở Việt-nam. Tuy-nhiên họ không được đào-tạo để làm những công-việc bài-bản quy-mô như các học-gỉa và sử-gia Trung-quốc đã làm để phục-vụ cho âm-mưu bành-trướng của ĐCSTQ chiếm đoạt Hoàng-sa và Trường-sa của Việt-nam. Đây là một vấn đề lớn-lao vì nó liên-quan đến cuộc tranh-chấp quyền lợi giữa hai quốc-gia. Nếu hai bên không thể giàn-xếp ổn-thỏa bằng con đường ngoại-giao, vụ-việc sẽ phải được giải-quyết tại tòa-án quốc-tế. Vì thế để có thể lập được một hồ-sơ pháp-lý cho một vụ án quốc-tế là chuyện của những chuyên-gia công-pháp quốc-tế, những nhà thương-thuyết ngoại-giao lão-thành, những sử-gia học-gỉa uyên-thâm, mới mong thực-hiện được một căn bản pháp-lý vững-chắc để đánh bại đối-phương. Ngoài kiến thức chuyên-môn còn phải có tài-nguyên dồi-dào và thời-gian để thực-hiện. Xin lấy một ví-dụ, Trung-quốc công-bố một bản-đồ trong đó bao-gồm hai quần-đảo tranh chấp. Cùng lúc đó họ trưng bầy hình ảnh khai quật được một số đồ-gốm đời nhà Minh trên đảo Trường-sa chẳng hạn. Muốn cãi lại họ chúng ta phải có đủ bằng chứng là người Việt-nam xuất hiện tại đây trước đời Minh.

Để đáp-ứng nhu-cầu này, vào khoảng giữa năm 1995 một tổ-chức đã được thành-lập tại hải-ngoại với cái tên là Ủy-Ban Bảo-Vệ Sự Vẹn-Toàn Lãnh-Thổ (BVSVTLT). Vì nhu cầu đòi-hỏi, năm 2008 tổ-chức phải lập thêm một đơn vị đặc-trách về vấn-đề Hoàng-sa và Trường-sa tên là Ủy-Ban về Hoàng-sa và Trường-sa. Ủy-Ban BVSVTLT gồm các luật-gia, các gíao-sư về công-pháp, các sử-gia và học-gỉa uyên-bác. Họ đang hy-sinh đáp lại tiếng kêu cứu của núi-sông làm tròn trách nhiệm “thất-phu hữu-trách”. Người sáng lập ra tổ-chức này là một Ông gìa 73 tuổi. Trước đây, ở Việt-nam, Ông là Phụ-tá Khoa-Trưởng Luật-khoa, Giáo-sư chính-trị và công-pháp. Sau 1975 là học-gỉa tại Hoover Institute, nghiên-cứu về “Cách-mạng, Chiến-tranh và Hòa-bình, Đồng Giám-đốc Dự-án Oral Life History tại Viện Nghiên-cứu Đông Á Đại-học U.C. Berkeley, California.

Thành-qủa mà Ủy-ban này đã thực-hiện được trong năm 2008 là một Bạch-Thư về Hoàng-sa và Trường-Sa. Và cũng trong năm 2008 này họ đã hoàn-tất được một hồ-sơ pháp-lý về Hoàng-sa và Trường-sa, sau 13 năm dài nghiên-cứu sưu-tầm. Hồ-sơ này sẽ giúp cho chính-quyền hậu cộng-sản của Việt-nam đưa vấn-đề tranh-chấp chủ-quyền trên hai quần-đảo Hoàng sa và Trường sa giữa Việt-nam và Trung-quốc ra trước tòa-án quốc-tế.

Hiện nay Ông đang dùng hết thì gìơ hưu-dưỡng đi khắp năm châu để diễn-thuyết cho đồng hương và “giáo-dục” các nhà làm chính-sách ở các nước sở tại về những việc phi-pháp mà ĐCSVN đang tiếp tay thực hiện âm-mưu bành-trướng của Trung-Cộng, trong đó có vụ Hoàng-sa Trường-sa và hậu-qủa của nó. Ông gìa đó chính là Giáo-sư Tiến-sĩ Nguyễn Văn Canh.

Đây là một vấn-đề lớn có liên-quan đến lợi-ích của toàn dân toàn quân, vượt lên trên lợi-ích của các phe phái cho nên những buổi nói chuyện của GS Nguyển Văn Canh đã được đồng-hương khắp nơi trên thế-giới hân-hoan đón-nhận. Ngoài ra sự ra đời của Ủy-ban BVSVTLT là sự lên tiếng của hải-ngoại đáp-lại lời kêu cứu của thức-giả và dân-chúng ở trong nước. Phải chăng đây là một sơi dây nối kết trong và ngoài nước và mọi thành-phần người Việt-nam yêu nước lại với nhau? Theo tôi, chính cái “nhục nô-lệ và họa mất-nước mà ĐCSVN đã gây ra đã khiến hưng-vận của nước Việt-nam tái xuất-hiện.

Nên gọi ngày 30-4-75 là ngày quốc-hận hay là ngày quốc-nhục? Có một điều chắc chắn đó là ngày đánh dấu giai đọan mở đầu chiến-thắng cuối-cùng của người Việt không cộng-sản.

Những thanh trừng trong nội bộ của đảng Cộng Sản


Tờ Triều Tiên Nhật Báo phát hành ở Hàn quốc hôm 4 tháng 4 vừa qua đã đăng tải một bản tin nói về việc một số nhân vật thuộc hàng lãnh đạo của Bắc Triều Tiên bị thanh trừng. Theo đó thì cựu Bộ trưởng Thiết lộ và cựu bộ trưởng Tài chánh Bắc Triều Tiên đã bị xử tử hình vào năm ngoái trước khi ông Kim Chính Nhật quyết định chọn người con trai thứ ba lên kế vị ông ta.
 
Bản tin vừa kể nhắc lại vụ nổ chiếc tàu điện chở ông Kim Chính Nhật từ Bắc Kinh về Bình Nhưỡng vào tháng 4 năm 2004. Khi tàu đến sông Long Xuyên trong lãnh thổ Bắc Triều Tiên thì bị phát nổ. Ông Kim Nhật Chính truyền khẩu lệnh phải tuyệt đối giữ kín vụ nổ này. Nhưng chỉ một ngày sau là nhiều người, đặc biệt giới truyền thông Hàn quốc đã biết tin này.
 
Ông Kim Dung Tam, Bộ trưởng Thiết lộ của Bắc Triều Tiên, là một trong những người có mặt trên chiếc tàu bị nổ, nên sau khi điều tra, Bình Nhưỡng nghi ngờ ông Tam là người tiết lộ tin tức vụ nổ tàu này. Vì vậy ông Tam bị cắt chức ngay sau đó. Ông Văn Nhất Phong, Bộ trưởng Tài chánh, cũng bị kỷ luật và cắt chức vì bị quy vào tội đã thất bại trong vụ đổi tiền hồi tháng 11 năm 2009. Ngoài hai Bộ trưởng này còn có thêm hơn 20 cán bộ cao cấp khác thuộc bộ Quân nhu Công nghiệp và Quân nhu Kinh tế bị thanh trừng, cắt chức và hạ tầng công tác, vì tình nghi biển thủ tiền bán vũ khí lậu.
 
Nếu hai ông Bộ trưởng bị thanh trừng nêu trên không lên tiếng phản đối việc phong hàm Đại tướng cho Kim Chính Ân để dọn đường cho “đại tướng nhóc” này lên kế vị Kim Chính Nhật, thì chắc là chẳng có chuyện gì xảy ra. Nhưng cả hai lại không im lặng về vụ này, nên bị cánh ủng hộ đưa Kim Chính Ân lên kế vị thắng thế lôi ra xử tử hình.
 
Ngày 05/04/2011, khi được hỏi về chuyện hai ông cựu Bộ trưởng ở Bắc Hàn bị tử hình, phát ngôn viên chính phủ Hàn quốc trả lời các ký giả rằng, đó là tin riêng của tờ Triều Tiên Nhật Báo, chứ cơ quan tình báo chưa xác nhận gì về mức độ khả tín của tin đó. Tuy nhiên, phát ngôn viên của chính phủ Hàn Quốc cho biết, mới đây do sợ ảnh hưởng của cuộc cách mạng Hoa Lài và những tin tức về việc xuống đường của người dân Ai Cập, chính quyền Bình Nhưỡng đã ra một Thông đạt triệt để cấm người dân không được sử dụng Internet. Nếu vi phạm sẽ bị phạt nặng từ án tù chung thân đến tử hình. Thông đạt này cũng yêu cầu các công ty ngoại quốc, các tổ chức NGO nước ngoài đang hoạt động ở Bắc Triều Tiên không được cho người dân Bắc Hàn sử dụng máy vi tính để truy cập tin tức. Nếu không tuân thủ sẽ bị bất lợi trong các hoạt động của họ, có thể dẫn đến việc bị đóng cửa,hoặc bị trục xuất ra khỏi Bắc Triều Tiên.
 
Liên quan đến sự bất an của giới lãnh đạo bắc Triều Tiên, được biết khoảng 46 ngàn người làm việc tại khu công nghiệp Khai Thành mỗi khi tan sở ra về đều bị lục xét xem trong người có dấu truyền đơn hay bất cứ tài liệu gì chống đối, nói xấu chế độ do quân đội Hàn quốc hay các tổ chức Nhân quyền rải ở nơi làm việc không. Một tháng ít nhất một lần vào ngày cuối tuần tất cả các công nhân làm việc ở khu công nghiệp Khai Thành phải học tập nửa buổi về việc nâng cao cảnh giác, đề phòng những “tuyên truyền láo khoét” của các thế lực thù địch, mà khu công nghiệp Khai Thành này được coi là “cái ổ” của “bọn phản động Hàn quốc”.
 
Thường thì Bình Nhưỡng lên tiếng bác bỏ ngay những tin như thế, và luôn bình luận thêm đó chỉ là sự bịa đặt của các thế lực thù địch nhằm bêu xấu nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Triều Tiên. Thế nhưng, trong 10 ngày qua Bình Nhưỡng vẫn không đả động gì đến các tin vừa kể. Vì vậy nhiều người tin là những tin tức về việc thanh trừng hai cựu bộ trưởng và một số cán bộ Bắc Hàn được tờ Triều Tiên Thời Báo loan tải đúng sự thật. Ngoài ra, nếu hai ông Bộ trưởng này còn sống thì Bình Nhưỡng chỉ cần đưa họ lên báo đài là đủ phản bác mọi chuyện. Nhiều chuyên gia quan sát về tình hình chính trị Bắc Triều Tiên còn dự đoán rằng, một khi ông Kim Chính Nhật chết đi thì cánh phản đối việc đưa Kim Chính Ân lên kế vị sẽ vùng dậy một mất một còn với phe Kim Chính Ân. Nếu không thì sớm muộn gì họ cũng bị thanh trừng.
 
Thật ra, chuyện thanh trừng trong thượng tầng lãnh đạo đảng của các đảng Cộng Sản vẫn thường xẩy ra vì nhiều lý do. Chẳng han như Lưu Thiếu Kỳ, Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc (1956-66) , từng là Chủ tịch Trung Quốc (1959-68), bị bức hại đến chết trong nhà tù Khai Phong năm 1969. Bành Đức Hoài, một nguyên soái nổi tiếng và là bạn chiến đấu của Mao Trạch Đông, cũng bị hành hạ đánh đập trong cuộc cách mạng văn hoá và chết sau đó. Những thanh trừng cán bộ cao cấp trong đảng cộng sản Liên Xô kéo dài hàng chục năm, đặc biệt kinh hoàng dưới thời Stalin. Trong đảng CSVN, tuy tin tức về các cuộc thanh trừng trong nội bộ đảng bị giấu diếm, nhưng người ta cũng được biết rất sớm về việc đại biểu quốc hội Dương Bạch Mai bị đột tử rất đáng nghi ngờ sau khi uống ly bia trong giờ giải lao (*) của cuộc họp quốc hội (1964). Sự thẳng tính của nhà trí thức miền nam này bị cả ông Hồ Chí Minh, Trường Trinh và Lê Duẩn không ưa, nhất là ông lại chống lại việc đưa Việt Nam vào quỹ đạo Trung Quốc. Việc hàng loạt tướng lãnh, sĩ quan bị bị cắt chức, tù đày trong vụ được gọi là “Xét lại chống đảng” cũng được xem là một cuộc thanh trừng khá rộng lớn ở miền bắc. Sau năm 75, Lê Đức Thọ nói với những cán bộ cao cấp của cộng sản cánh miền Nam từng bị chính phủ VNCH giam giữ, là họ “đều có vấn đề”, được xem như là dấu hiệu cho một cuộc thanh trừng sau đó. Ngoài ra, người dân miền nam cũng xôn xao một dạo về cái chết bí ẩn của Huỳnh Văn Nghệ (tư lệnh phó của Trần văn Trà, tư lệnh quân đội việt cộng ở miền nam). Dư luận cũng đặt ra rất nhiều nghi vấn về hai cái chết do “bị tông xe” của hai cán bộ thuộc hàng lãnh đạo CSVN. Đó là Đinh Đức Thiện (thượng tướng, tư lệnh phó chiến dịch tấn công miền nam năm 1975, thứ trưởng quốc phòng, bộ trưởng dầu khí...) và Đinh Bá Thi, đại sứ đầu tiên của CSVN tại Liên Hiệp Quốc. Riêng Đinh Bá Thi thì có tin rò rỉ ra ngoài là bị nghi ngờ làm gián điệp hai mang trong thời gian làm việc ở Liên Hiệp Quốc).
 
Nếu viết cho đầy đủ thì những chuyện thanh trừng trong nội bộ các đảng cộng sản là những pho chuyện dài kể mãi không hết. Điều này cũng dễ hiểu, vì những tập đoàn lãnh đạo cộng sản dần dần đều lộ chân tướng là những băng đảng mafia; mà cách hành xử, thanh toán nhau trong nội bộ hoặc giữa các băng đảng mafia để tranh giành quyền lợi đều tàn bạo và đẫm máu và luôn luôn diễn ra. Cái khác giữa mafia cộng sản và mafia xã hội đen là những tin tức về sự thanh trừng trong các đảng cộng sản đều bị bịt kín, báo chí và các cơ quan truyền thông của đảng không bao giờ đăng tải. Còn sự thanh toán nhau của mafia xã hội đen thì được báo chí và cơ quan công lực điều tra, công bố.
 
— -
(*) Cũng có nguồn tin nói rằng, ông Dương Bạch Mai được chính chủ tịch Hồ Chí Minh mời chai nước ngọt Hồng Hà trong giờ giải lao của cuộc họp quốc hội. Sau khi uống vào thì phải đưa đi bệnh viện và chết.
 

NGÀY NẦY, NĂM 1975…


Năm nay tôi 80 tuổi. Vợ tôi thường nói với mấy con:

«Ông bà mình nói người già hay sanh tật, đúng quá! Bây coi: ba bây bây giờ sáng nào uống cà phê xong cũng lại đứng trước tấm lịch tháng treo ở phòng khách, nhìn trầm ngâm một chút rồi lấy bút gạch tréo ô vuông đề ngày hôm qua!Chi vậy hổng biết? Hỏi ổng thì ổng nói gạch để nhớ rằng đến ngày nầy tháng nầy mình vẫn còn trôi sông lạc chợ! Trời đất! Định cư ở Pháp từ hơn ba mươi năm chớ phải mới đây đâu mà đi gạch lịch từng ngày! Ổng còn nói gạch để coi chừng nào mình mới thôi gạch để về lại Việt Nam… »


Câu nói của tôi là sự thật nhưng vì vợ tôi không hiểu nên cho là tôi già sanh tật! Làm sao giải thích được mỗi lần tôi gạch tréo một ngày như vậy tôi có cảm tưởng như là tôi vừa nhích lại gần quê hương một chút – một chút thôi – đủ để nuôi hy vọng thấy một ngày nào đó mình vẫn còn sống mà trở về…

Sáng nay, cũng giống như mọi ngày, tôi cầm bút gạch tréo ô vuông ngày hôm qua. Ô vuông ngày hôm nay đập vào mắt tôi làm tôi giật mình: ngày nầy, năm 1975! Tôi bỗng nhớ ra, nhớ rõ, những gì đã xảy ra ngày đó, nhớ như in. Rồi sợ «cái ngày đó» nó vuột khỏi ký ức vốn đã quá hao mòn của tuổi già, tôi vội vã lấy giấy bút ghi lại…

* * *

… Hồi thời trước 75, tôi làm việc cho một hãng dầu ở Việt Nam, phụ trách nhập cảng xăng dầu từ Singapore vào kho dầu Nhà Bè để cung ứng cho thị trường dân sự và quân sự miền nam Việt Nam. Vì trong xứ có giặc nên thị trường quân sự chiếm 60%, trong đó xăng máy bay dẫn đầu. Các bạn tôi trong quân đội giải thích cho tôi biết rằng ở chiến trường miền nam sự yểm trợ của không lực là quan trọng nhứt. Do đó, tôi luôn luôn theo dõi sát tình hình dự trữ xăng máy bay ở các kho dầu miền nam, từ kho Nại Hiên Đà Nẵng dẫn xuống kho Cần Thơ thông qua kho lớn ở Nhà Bè…

Vào cuối tháng 5 năm 1975, sau lịnh triệt thoái cao nguyên, tình hình quân sự trở nên ồ ạt. Sợ trở tay không kịp, tôi còm-măng Singapore một tàu xăng máy bay. Hay tin nầy, hãng bảo hiểm có hợp đồng với hãng dầu tôi làm việc đánh điện phản đối, không cho tàu dầu qua Việt Nam viện cớ tình hình bất ổn. Đánh điện qua, đánh điện lại, cù cưa cả tuần họ mới bằng lòng cho tàu dầu qua, với điều kiện phải có hộ tống của Navy Mỹ họ mới cho tàu vào sông Sàigòn để cập kho Nhà Bè!
Tôi báo cáo với ban giám đốc vì lúc đó ở kho lớn Nhà Bè trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ có bảy ngày tác chiến của không quân. Ban giám đốc chấp thuận điều kiện của hãng bảo hiểm. Tôi vội vã gọi điện thoại lại cơ quan yểm trợ Mỹ để xin họp khẩn. Ông trưởng sở trả lời:
«Tôi sẽ đến ngay văn phòng ông. Cho tôi mười phút!».

Tôi quen ông nầy – tên W, thường được gọi là «Xếp » – nhờ hay đi họp chung. Ông ta dễ thương nhã nhặn, biết chút đỉnh tiếng Pháp nên lần nào gặp tôi cũng nói: “Bonjour! çà va?” ( Chào ông! Mạnh hả?)
Xếp W đến văn phòng tôi với hai người phụ tá. Tôi đã làm sẵn hồ sơ nên sau khi mời ngồi, tôi trao ngay cho họ để họ dễ theo dõi những gì tôi sẽ trình bày. Mười phút sau, tôi kết luận xin can thiệp gấp để tàu dầu xăng máy bay của hãng tôi được hộ tống, không quên nhắc lại điểm chánh yếu là trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ để chiến đấu trong vòng có bảy bữa!

Nghe xong, Xếp W xin phép bước ra ngoài gọi radio về trung ương. Một lúc sau, ông trở vào, nét mặt và giọng nói vẫn tự nhiên như chẳng có gì quan trọng hết:
«Rất tiếc! Chúng tôi không giúp được! Thôi! Chúng tôi về!».

Tôi đang nghe nghẹn ngang ở cổ thì ông W vỗ vai tôi nói nhỏ bằng tiếng Pháp:
«Allez vous en!» (Ông hãy đi, đi!)

Ra đến cửa phòng, ổng ngừng lại nhìn tôi, gật nhẹ đầu một cái như để chào nhưng tôi nghĩ là ổng muốn nhắc lại câu nói cuối cùng “Allez vous en!” (Ông hãy đi, đi! ) …

Tôi ngồi bất động, nghe tức tràn lên cổ vì thấy mình bất lực quá và cũng nghe thương vô cùng cái quê hương nhỏ bé của mình, nhược tiểu đến mức độ mà khi cần nắm tay để kéo đi theo thì «họ» dán… đầy đường cái nhãn «hai bàn tay nắm lấy nhau» để chứng tỏ sự thật tình «khắn khít», rồi khi không còn cần nữa thì cứ tự nhiên buông bỏ không ngượng tay giấu mặt, vì biết mười mươi rằng «thằng nhược tiểu đó không làm gì được mình»!
Tôi ráng kềm xúc động, bước qua phòng họp của ban giám đốc, chỉ nói được có mấy tiếng:
«Chánh quyền Mỹ từ chối!».

Sau đó, tôi đánh điện qua Singapore, cũng chỉ bằng một câu: «Không có hộ tống». Họ trả lời ngay: «OK! Good Luck!» (Nhận được! Chúc may mắn!) Hai chữ cuối cùng, trong hoàn cảnh nầy và vào thời điểm nầy, nghe sao thật đầy chua xót!

Thấy mới có ba giờ chiều, nhưng không còn lòng dạ đâu để ngồi lại làm việc nên tôi lái xe về nhà. Tôi lái như cái máy, cứ theo lộ trình quen thuộc mà đi. Về đến trước nhà, tôi bỏ xe ngoài ngỏ, đi bộ vô. Vợ tôi chạy ra, ngạc nhiên:
«Sao về vậy anh?».

Tôi không nói được gì hết, chỉ gục đầu vào vai vợ tôi rồi bật khóc. Vợ tôi chưa biết những gì đã xãy ra nhưng chắc nàng đoán được rằng tôi phải đau khổ lắm mới phát khóc như vậy. Cho nên nàng vừa đưa tay vuốt vuốt lưng tôi vừa nói, giọng đầy cảm xúc:
«Ờ… Khóc đi anh! Khóc đi!»

Ngày đó, tháng tư năm 1975… Đúng là ngày nầy!

VIẾT CHO NGÀY QUỐC HẬN


“ VĨ  TUYẾN 17…..TIẾC NUỐI và…NGẬM NGÙI ”
 
30 Tháng 4 -- Nỗi buồn không cũa riêng ai -- Người Sàigòn và miền Nam hay an ũi với nhau như vậy trong chốn riêng tư mỗi khi ngày tháng này quay lại trong ký ức, đễ rồi không khỏi ngậm ngùi đưa ra ít luận cứ, giã định: thử hình dung hai miền đất nước vào thời điễm này sẽ như thế nào ? nếu Vĩ Tuyến 17 tại VN ỗn định vững chắc như Vĩ Tuyến 38 chia đôi Nam, Bắc Hàn ?? .
 
Không khó lắm, dù thời gian đã hơn nữa thế kỹ ( 1954 – 2011 ) Bỡi nhân chứng vật chứng, cảnh cũ người xưa , sách báo, hình ảnh ,tàng thư còn lưu đầy nơi hiện trường, thư viện, trong và ngoài nước cho bất cứ ai muốn ước đoán, nhất là giới trẽ VN sau 1975. đễ có một góc nhìn khác về quê hương đất nước con người đã có một Vĩ Tuyến Định Mệnh đẫm nhiều máu và nước mắt của đồng bào mình ? Nội dung bài viết cũng khiêm tốn trong chừng mực ấy .
 
Chút khái quát khách quan đễ so sánh . Ta nhìn những con “Rồng Châu Á” sau đây vào thời điểm xuất phát 1954 - Hàn Quốc tan nát bỡi chà qua xát lại cũa chiến trường, sau nội chiến ,nền kinh tế bằng không,nhân dân thiếu lương thực trầm trọng -- Đài Loan là một làng chài nghèo, tự sãn tự tiêu với một ít thổ dân bản xứ khi ông Tưởng Giới Thạch cùng tàn quân Quốc dân Đảng tìm đến lánh nạn—Singapore một rẽo đất bán khai nghèo ven biễn thiếu nước ngọt mà Malaysia ngần ngại không muốn nhận về mình . Trong khi.SàiGòn miền Nam VN  là Thủ Phủ của Đông Dương ( Việt-Miên-Lào ) do thực dân Pháp xây dựng hạ tầng cơ sở qui mô vượt trội hơn hẳn ba nước nói trên, nó mang danh ( Hòn Ngọc Viễn Đông ) Bỡi - SàiGòn đẹp lắm, SaiGòn ơi ! Miền Bắc, HàNội VN cũng được Pháp xây dựng hạ tầng tươm tất như thế nhưng xung đột và tranh chấp cục bộ giữa Thực dân Pháp , quân Phiệt Nhật và  CSVN nên kinh tế kiệt quệ, hàng triệu nhân dân chết vì đói ( Ất Dậu, 1945 ) .
 
Giống như vĩ tuyến 38 chia đôi Nam, Bắc Triều Tiên, , Vĩ tuyến 17 do LHQ thiết đặt thông qua hiệp định Geneve 1954 cũng chia đôi nước Việt, Miền Nam có khuynh hướng lập nền Cộng Hòa theo thể chế tư bản nên được Thế Giới tự do bão trợ thông qua chính phủ Hoa kỳ ( Mỹ ) .Tương tự như kế hoạch MarShall ( mang tên Ngoại Trưởng Mỹ, người đưa ra chủ trương , hỗ trợ toàn diện cho các nước Châu Âu phục hồi phát triễn sau thế chiến 2 ) . Tại Đông và Nam Á – Miền NamVN, Đài Loan , Nam Hàn là những nước thuộc vùng ven tiếp giáp biên giới đối diện với những lãnh thổ do Cộng Sãn cai trị đang cao trào sục sôi muốn nhuộm đỏ toàn nhân loại với chủ nghĩa Mác-Lê, Việc ngăn chặn làn sóng Đỏ nơi này cũng như các nước cận kề Đông Âu là ưu tiên cũa Mỹ và Đồng Minh ( thế giới Tư Bãn tự Do ) . Rất Nhân Bản trong kế hoạch MarShall , sứ giã Hòa Bình của thế giới này lấy tiêu chí giúp đỡ toàn diện đễ phục hưng các nước đối tượng nói trên bằng viện trợ kinh tế, tài chính, khoa học kỹ thuật với mục đích nâng cao đời sống và kiến thức cho người dân sở tại đễ có đũ trình độ nhận biết được sự tương phãn cũa hai chế độ : Tự Do và Cộng Sãn mà không cần thiết đổ máu thêm nữa . Bên cạnh viện trợ tài chính lớn lao không hoàn lại, hàng loạt chính sách thuế quan ưu đãi trong xuất nhập cảng, còn thoáng đãng hơn là “ Tối Huệ Quốc” cũa chính phủ Mỹ hiện nay , cánh cữa Văn Hóa rộng mỡ vô điều kiện cho con em du học sinh nhân dân trong  khu vực này đến Mỹ và châu Âu , Nói không ngoa chút nào – Mỹ và thế giới Tự Do mang đến những “đôi hia bãy dậm”
cho các nước nghèo ,người dân còn khó khăn, chậm phát triễn trong khu vực trong đó có Miền Nam VN như là sự chấp cánh cho mọi khát vọng vì tổ quốc giàu mạnh vì văn minh tiến bộ của nhân loại , chính nhờ những điều kiện tiền đồ đó mà Hàn quốc, Đài Loan, Singapore, Thailan đã tận dụng triệt đễ, phát huy không ngừng về mọi mặt đễ đưa nền kinh tế cất cánh bay lên như ngày nay ( toàn bộ tư liệu liên quan chi tiếc hơn nhiều có trong các số  nguyệt San “Thế giới Tự Do” tồn trữ nơi văn khố B.thông Tin Hoa Kỳ ) .
Trong những năm đầu phân chia lãnh thổ, ai là người VN sống ở phía Nam vĩ tuyến 17 và SàiGòn chắc ký ức khó phai nhòa với những hình ảnh các vật dụng đa dạng từ dân sinh đến trang thiết bị kỹ thuật, y tế ,nông công ngư nghiệp, có đính hình bắt tay nhau trên nền cờ “sọc, sao” Hoa Kỳ với danh từ hàng “Viện Trợ”, chẳn thể nào liệt kê cho hết , đơn cử: Tỉnh, thành phố nào cũng có từng đoàn xe viện trợ khẫn cấp Landrover  sơn màu vàng với chữ đỏ “Diệt trừ sốt rét” tõa về các nơi nông thôn trên khắp nước phun xịt thuốc DDT tiêu diệt muỗi anophen, nhờ thế mà chận đứng, cứu sống hàng vạn nạn nhân sốt rét, thanh toán được bệnh này tại phía Nam VN thuỡ đó,một kỳ công của tổ chức ý tế thế giới -- Những chiếc máy bơm nước nhỏ gọn “Cole” trên bờ ruộng giãi phóng cho sức người với gầu dai gầu sòng bao thế kỹ , máy Cole trên ghe xuồng thay cho đôi tay,mái chèo trên sông nước , những chiếc máy cày viện trợ thay cho trâu bò và sức người trên đồng ruộng ,cao điểm là chính phủ xuất tiền viện trợ mua lại đất đai từ các địa chủ phú hộ để cấp phát cho nông dân nghèo không đất mà không cần hoàn vốn ..v.v.. , nói chung các nước phụ cận nói trên được viện trợ thứ gì thì Miền Nam cũng có những thứ ấy đễ chấn hưng kinh tế tiến lên thời đại văn minh cùng trào lưu thế giới, bù đắp nhanh chóng những mất mát , sau thời kỳ bị đô hộ và chiến tranh.
Biết như thế đễ dễ bề ước đoán . Như đã nói trên, điểm xuất phát của 3 con Rồng châu Á dù có tính toán chi li thế nào thì lợi thế cũng không thể bằng miền Nam thuở ấy , bên cạnh còn có một số dữ kiện khách quan khác mang nhiều ưu đãi hơn cho chúng ta. Vị trí  giống Đài Loan và Hàn Quốc đối diện với biên giới Cộng Sãn nhưng sau lưng và bên hông Miền Nam là một loạt các nước Tự Do còn lại cũa Đông Nam Á , Trong suy diễn chiến lược lúc bấy giờ, Mỹ và đồng minh cảnh giác : Nếu Miền Nam bị CS nhuộm “đỏ” khã năng hiệu ứng domino sẽ dây chuyền đe dọa các nước ấy là một điều bất hạnh mà thế giới tự do và Mỹ không mong đợi, vì vậy Miền Nam VN là một quốc gia cần được cũng cố bằng mọi giá cho thật vững mạnh dưới mắt nhìn cũa Mỹ và đồng minh . Xây dựng qui mô hạ tầng SaiGòn và các đô thị Miền Nam do Tập Đoàn khổng lồ đa quốc gia Mỹ RMK đãm trách ( cầu S.Gòn – Tân Cãng --  xa lộ S.Gòn,B.Hòa. Kho xăng NhàBè...Sân bay Biên Hòa  v.v  ) tất cả đều viện trợ vô điều kiện – ( Nhìn Hàn Quốc và Nhật Bãn hôm nay đễ bác bõ luận điệu ấu trĩ cũa người CS cho rằng Mỹ làm như thế là che dấu ý đồ thực dân “kiểu mới” ?? kiểu mới nào đễ cho một Nhật Bãn bại trận ,10 sư đoàn quân Mỹ chiếm đóng giám sát đến tận ngày nay, vẫn có cũa ăn cũa đễ làm nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới ? và cũng chưa có ý định mời Mỹ rút quân ? ) Tác động mạnh mẽ từ những sự hỗ trợ ưu đãi ấy nền kinh tế SaiGòn và Miền Nam lớn mạnh và hoàn thiện, đầu tư nước ngoài bắt đầu vào, Hãng Sữa quốc tế Foremost Mỹ ở ThủĐức ( Tiền thân của Vina Mill ngày nay) , Bia Larue ( tiền thân Bia SG ngày nay) – Thuốc lá Mic Của Pháp – hàng không VN sắm thêm hàng chục máy bay dân dụng C 47..v.v…Nói chung tại thời điễm ấy chế độ CS miền Bắc VN có nằm mơ 365 đêm liền cũng chẵn thể nào thấy được !! và vì vậy rất khách quan đễ nhận ra rằng tại điễm xuất phát lúc bấy giờ SàiGòn và Miền Nam có lợi thế hàng chục “sãi chân” hơn so với những con “Rồng” nói trên , trên đường đua phát triễn , còn Miền Bắc VN nếu có tham dự cuộc marathon này thì cũng chỉ là anh “ cu li” ốm đói đứng nhìn, bỡi lê đôi chân còn không muốn nỗi nói chi đến chạy ! điều đó là thực tế không mộng mị chút nào bỡi cái nghèo nàn lạc hậu kiểu “tem phiếu” còn kéo dài lê thê đến tận sau năm 1975 mà đồng bào Miền Nam còn nhìn thấy được ( cũng nên nhắc lại , vì sự chênh lệch quá lớn này mà nhân dân miền Nam phãi nhận hậu quã 2 lần đỗi tiền, CSVN vắt kiệt những phồn vinh cũa miền nam đễ cho cùng thân phận nghèo nàn như phía Bắc, cho bớt tương phãn, cho danh chính ngôn thuận cũa người CSVN  ) .
Đến đây thì mọi nhận định có phần sáng tỏ đễ không cần phãi cân đong đo đếm . Nếu vĩ tuyến 17 là biểu tượng cũa “Anh Hùng Mã Thượng cũa Quân Tử Nhất Ngôn”  từ ấy đến nay thì : Miền Bắc, có lạc quan cho mấy hình ảnh của nó trong lúc này chắc không hơn gì CuBa hay Bắc triều Tiên, chẵn thễ nào khác được , bỡi não trạng cũa những người lãnh đạo CSVN cho đến hôm nay công luận vẫn nhận xét là toàn “bã đậu” sơ cứng, rong rêu ! chỉ giỏi độc đoán chuyên quyền thủ đắc quyền lợi cho cá nhân , không tha thiết với tiền đồ của Tổ Quốc, hơn nữa bóng ma cũa hai ông “râu xồm” Mac-Lê và cặp búa liềm cứ treo lơ lững trên đầu dân tộc thì “ Bố ai giám kết nghĩa Kim bằng” họa chăn có ông Tàu Cộng ông Cuba...Với Miền Nam không khó lắm đễ hình dung : -- Nhìn vào hãi trình ,bãn đồ địa lý,độ sâu, và mặt bằng rộng, kín gió thì cãng trung chuyễn cotine lớn nhất Đông nam Á phãi là Cam Ranh Hay Dung Quất của VN Chứ không là Cãng Singapore như hiện nay, Bến cãng Bình Đông SaiGòn là nơi xuất Gạo hàng đầu thế giới ( Hiện nay thứ 2 & 3 ) cũa Đồng bằng sông Cưu Long chứ không là Tháilan , Tây nguyên là Vương Quốc café số 1 của thế giới ( hiện nay sãn lượng thứ 2 & 3 ) và SaiGòn là Trung Tâm Kinh tế tài Chính tầm cỡ Châu Á do Mỹ Đầu tư và tư vấn ( nên nhớ từ  lúc ấy SaiGòn và Miền Nam chịu ảnh hưởng và chi phối  rất mạnh từ nền kinh tế và chính trị Mỹ ) bên kia biễn Đông đối diện miền trung là Bộ tư lệnh Hạm Đội 7 Hãi Quân Mỹ tại Thái Bình Dương đồn trú ở vịnh SuBíc Philipine ( Lúc bấy giờ ) , Cam Ranh lúc ấy đã là căn cứ tiền phương cũa Hãi Quân Mỹ tại Đông Nam Á rồi ( có ý nghĩa rất lớn cho: An ninh Biễn đão đễ chúng ta không bị bắt nạt như hiên nay ) Có thể nói nếu không có gót chân và tiếng súng cuồng chinh vượt Vĩ Tuyến 17 của CSVN, thì Miền Nam có thể là một “Ông Lớn” trong hệ thống kinh tế tái chính Châu Á không hề thua kém 3 con Rồng kễ trên mà không chủ quan chút nào, ( Tất nhiên là không thể bằng Nhật Bãn, dù bại trận nhưng tiềm năng tri thức khoa học kỹ thuật, Công kỹ nghệ nặng cũa Nhật vẫn là hàng đầu .) Nhưng như thế cũng quá đũ đễ giờ này Miền Nam VN sẽ đàng hoàng ,đẹp đẽ và quyến rũ vương đôi cánh Thiên Nga lộng lẫy bay vào thế kỹ 21 trong bao điều thuận lợi, chứ không giống như đàn ngan lạch bạch quanh quẫn kiếm ăn nơi ao nhà ở phía Bắc! bị chăn dắt bỡi một lũ người “ KHÔN NHÀ nhưng DẠI CHỢ .
Không duy tâm,vì hầu hết mọi sự vật đều có biện chứng . Nhưng nhiều người Miền Nam mãi vẫn còn tiếc nuối một cơ hội lớn lao của dân tộc đã bị một con người mà sự xuất hiện cũa ông ta như một Định Mệnh đáng nguyền rũa : Hồ Chí Minh – chính ông ta đã tướt đoạt cơ hội cất cánh của dân tộc này ném vào lữa đỏ nung cháy thêm mấy triệu sinh linh trong hơn 30 năm đễ sãn sinh ra một hình hài Việt Nam nhược tiểu ,nghèo hèn, chia rẽ hôm nay , còn ông giờ nằm đó chờ Lịch Sử “ Tôn Vinh” danh hiệu “Hồ - Hôn Quân Vô Đạo” kẽ làm chãy máu dân tộc Việt Nam nhiều nhất từ trước tới nay.

CÔNG LÝ CỦA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA – CÔNG BẰNG DÂN CHỦ VĂN MINH


Cứ nhìn vào những phiên tòa của cái gọi là XÉT XỬ CÔNG KHAI để kết tội những người đấu tranh –không một ai không bất bình, từ những người quan tâm đến thời cuộc đến những người thờ ơ , bàng quang như tôi.

Tôi bất bình không vì tôi liên quan trong vụ án, nhưng tôi bất bình vì tôi là công dân của một nước tự nhận là XHCN , là một nước CÔNG BẰNG – DÂN CHỦ – VĂN MINH mà TÒA ÁN NHÂN DÂN của nhân dân mà lại chẳng văn minh – chẳng công bằng – cũng không dân chủ – một nước CHXHCN – độc lập mà không ai được hô to lên HS-TS là của VN ! đả đảo tàu cộng xâm lăng! – tự do hưởng đói nghèo xơ xác , tự do ngu dốt, tự do mất mát nhà cửa, ruộng vườn – thì nói chi đến hạnh phúc ….vời vợi xa.

Đói nghèo, ngu dốt, mất mát nhà cửa, ruộng vườn …. Từ đâu ra ???

Một nước văn minh tại sao dân oan ngày càng chất chồng oan khiên???

Ai đem trả lại công bằng cho họ khi họ đi đòi công lý phải sáng tỏ ???

Nơi đó chính là TÒA ÁN – thế nhưng, tòa án lại rặt những kẻ mà theo LS Trần Lâm :

“Những người xét xử phải có đủ khả năng để phân tích, mổ xẻ vụ án ấy cho thật khoa học, mà điều này đã không có được, vì thực tế là, có rất ít các vụ loại này.”

Điều này nói lên : những người xét xử chưa đủ khả năng, chưa đủ hiểu biết để phân tích, mổ xẻ vụ án ấy cho thật khoa học??? phải chăng : vì điều này đã không có được, vì thực tế là, có rất ít các vụ loại này.”

Vậy phải có nhiều vụ án như vậy mới xử đúng được???? nhiều là bao nhiêu …. Nhiều hơn một đã có rồi , các bị cáo trong các vụ án CT vẫn kêu oan – hay hơn 100, 1000 ,,, cũng có rồi người dân mất đất , mất nhà cửa, ruộng vườn cũng có cả hàng ngàn….. có ai xử trả lại cho họ đâu hay như các bác sĩ có đợi đến bệnh nhân lên đên vài chục ngàn người mới chữa bệnh, mới nghiên cứu cách chữa bệnh ???

http://bachmai.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=854&Itemid=34

Bệnh tích protein phế nang là một rối loạn hiếm gặp, tần suất khoảng 0,37/100.000 người ~ 1/30000 người – vị bác sĩ này nếu thấy khó có quyền giải nghĩa loanh quanh và bỏ phế nạn nhân – ai biết đó là đâu, bởi bệnh hiếm quá – nhưng không ! sinh mạng con người là vốn quý và kết quả là ông đã cứu sống được bệnh nhân !

Vậy phải chăng Chân lý là chỉ nên cứu giúp những ai không gây ảnh hưởng, không động chạm đến quyền và lực của những người có trách nhiệm ???

“Nên những người lãnh đạo quyết định : xử « nặng ». Nặng là thế nào, nghiêm là thế nào ? Thì người xử cứ làm mọi cách để làm sao nó xong phiên toà, và tuyên được cái mệnh lệnh, cái số năm tù mà người ta đã quy định, thế là hoàn thành trách nhiệm rồi.”

Những người lãnh đạo quyết định đó là ai ? và trước sinh mệnh một con người họ chỉ cần làm qua quýt để an thân – để ăn lương – và họ trở nên vô tri, vô lương tâm vậy sao???

Một khi đã chấp nhận làm – để ăn lương – là loại làm công làm thuê, là danh từ mỹ miều đặt cho công việc ấy là “oshin” thì làm gì có đủ lương tri để làm việc “để phân tích, mổ xẻ vụ án ấy cho thật khoa học”

Ngược lại cũng cho thấy qua các phiên tòa để xử các vụ án chính trị có ai thoát ra ngoài công việc làm OSHIN, nói khác đi …. Đầy dẫy loại OSHIN ngồi trong tòa để hại dân!!!

Đã là oshin thì chỉ làm tay sai ! không thể làm khác hơn được !!!

Ông bà ta vẫn có câu : ‘ăn cơm Chúa – múa tối ngày ’ là vậy

Những người lãnh đạo quyết định đó là ai ? – vì quyền lợi – địa vị sẵn có – trình độ hiểu biết chỉ đến vậy, nên đòi hỏi họ hiểu – nhận định vấn đề to lớn liên quan đến vận mệnh con người , đến đất nước … họ không dám ! khồng hề dám ! và không bao giờ dám! Nên phải ra lệnh như vậy – đã có “bầy oshin” đóng tuồng, làm bình phong cho họ tại vị là được rồi! đòi hỏi họ hiểu khác đi là không thể có được. Họ đã dấn qúa sâu trong vũng lầy XHCN – đã làm họ tê liệt, tê liệt lý trí – tê liệt lương tri! Họ chẳng bao giờ dám “thoáng nghĩ” qua một nơi nào không cộng sản. Họ chỉ biết nổi đến mức : buông chế độ CS ra họ sẽ phải sống thế nào đây? Còn quyền còn chức còn người xu nịnh, còn “ bỗng lộc từ chế độ CS ban cho họ ” – hết chức hết quyền họ thừa biết rằng chẳng ai đến nữa, chẳng ai xu nịnh, họ và đám con cháu lấy đâu ra tiền của để ăn chơi trác táng , sa đọa??? và những oan hồn tày liếp do họ tạo ra sẽ đến đòi lại những gì đã bị họ tước đoặt ….. làm sao dám buông chiếc ghế CS ra cho được ??? chỉ bấy nhiêu đã khiến cho chẳng bao giờ muốn nghĩ đến một thay đổi nào khác nữa – nên bắt buộc đám dê tế thần “thẩm phán” phải nhắm mắt làm ngơ và nghe theo lệnh !

“Suy cho đến tận cùng, hiện nay ở Việt Nam, nói về vấn đề xét xử là nói theo chế độ đa nguyên, đa đảng của châu Âu. Tức là, công khai mà nói, tôi xử theo A, B, C, D, mục nọ, mục kia, như vậy là theo trình tự của Châu Âu. ”

Những tiến trình khoa học có nghiên cứu, xem xét , cân nhắc đúng sai…. Để đưa ra bản án hợp lòng dân, hợp đạo lý chỉ có ở các nước văn minh – của xã hội loài người !

Đưa được những bản án ấy ra thì CS đã biến mất hết trên quê hương Việt Nam rồi .

Có những việc hết sức đơn giản, lại rất lập lờ giả trá tại VN :

Các nước có computer đời mói – VN cũng có !

Các nước có điện thoại đời mói – VN cũng có !

Các nước có xe hơi đời mói – VN cũng có !

Các nước có nhiều trường học – VN cũng có !

Các nước có nhiều tiến sĩ – VN cũng đua theo !

Các nước có luật pháp – VN cũng có !

Nhưng đến đây lại đụng chạm đến quyền lợi sống còn của tập đoàn VC nên không còn giống được nữa.

Chân lý chỉ có một – nhưng cái giả trá ……. giống giống ….. thì muôn hình vạn trạng.

Vấn đề còn lại là phải buộc cho được cái giả trá ấy được “bày bán công khai” bằng những còng số tám, bằng những “bản án hợp pháp” do đám dê tế thần THẨM PHÁN, do đám cu li “CÔNG AN ”vô lương tri ….. TRIỂN LÃM ! Trên khắp thế giới !!! để lừa mị người dân , lừa mị cộng đồng thế giới nhẹ dạ cả tin …. Mau mau chuyển tiền về “ tài trợ cho VN cải cách hệ thống tư pháp” – hãy gửi nữa đi ! gửi nữa để có cái mà chia nhau. “tiền vào tay quan” quan làm gì ai biết? ai có quyền biết ?

Nên LS Trần Lâm băn khoăn mãi về vấn đề: “Ở trên thế giới người ta không công nhận vụ án gọi là « tuyên truyền chống Nhà nước ». Người ta chỉ công nhận việc gì chống mà gây ra thiệt hại cụ thể thì mới là tội. Mà về tự do ngôn luận, trên thế giới người ta không đồng ý tội danh này.

Nhưng ở Việt Nam có nguyên tắc « cấu thành hình thức », tức là không cần phải có thiệt hại.!

Vì quan điểm của người ta rất rõ ràng : nếu để diễn biến như mồm anh nói, cần phải đa đảng, cần phải thế nọ, thế kia, mà việc đó nó đã thành hình rồi, thì cái chính thể có còn không ? Chính thể lúc đó không còn.

« Cấu thành hình thức » là chưa cần thiệt hại, mà có khả năng xảy ra thiệt hại, thì phải ngăn trước, ngừa sau. Hai cái quan điểm luật pháp có sự khác nhau là như vậy.

LS và bị can đã vẽ đường cho mấy con hươu – không phải – vẽ đường cho mấy OSHIN :

Đảng và NN người ta khó chịu thì cũng « phải » thôi. Nhưng mà « phải » thì cũng phải tí tẹo thôi chứ!

Lần này, tôi dứt khoát là, « ông » kết (án), thì cũng đúng thôi, nhưng nó không hợp thời, không đúng với thời đại. … mà « ông » lại mang những cái chuyện cũ kỹ ra, mà « ông » coi là ghê gớm, thì người ta thấy rằng « ông » nhắm mắt, bịt tai trước tình hình chung.

- Nhưng ở Việt Nam có nguyên tắc « cấu thành hình thức », tức là không cần phải có thiệt hại.! … nguyên tắc này được giải thích rất tùy tiện miễn sao có lợi cho AI ĐÓ đang dứng phía sau , giật dây quan tòa !!! (nhà cầm quyền – tham nhũng – bọn bất lương)

- TÒA nhận thức đó là nguy hiểm, thì TÒA nói là nguy hiểm

TÒA thế thì « nguy » quá rồi. = TÒA BÙ NHÌN mà bác TRẦN LÂM bảo rằng nguy thí

chí oan cho TÒA!

1. Làm như thế nào thì cái « cấu thành hình thức » kia khiến một người có thể bị buộc tội. Thực tế là (ở đây trong trường hợp ông Vi Đức Hồi) người ta không mô tả được.

2. Người này nói thì không VIỆC GÌ nhưng người khác lại NÓI CÓ TỘI

Hiện nay nó đang có sự lúng túng như thế. Thành ra (sự kết án này) nó trở nên trừu tượng.

3. Tranh luận giữa Tòa, với Viện, với Luật sư và Bị cáo, thì đều nói rằng, kể là có làm việc đó, thì cũng là thiếu sót, nhưng mà nó chả là cái gì ghê gớm cả, nhưng thế mà cuối cùng, nó lại thành ÁN nghiêm trọng.

4. « Cấu thành hình thức » là chưa cần thiệt hại mà có khả năng xảy ra thiệt hại, thì phải ngăn trước, ngừa sau. Hai cái quan điểm luật pháp có sự khác nhau là như vậy!

ngăn trước, ngừa sau: là đề phòng –

- không ai đề phòng chạm điện thì phải cắt bỏ hết hệ thống điện!

- không ai đề phòng bệnh thì phải uống thuốc liều cao ngất ngưỡng như đang trị bệnh.

Ấy thế mà để đề phòng TÒA đưa ra những bản án chất bằng hàng ngàn, hàng ngàn tờ lịch – bằng cửa nhà tù rộng mở – và hàng ngàn sinh linh vất vưởng khắp đất nước này. Không có từ nào diễn tả súc tích bằng 2 chữ DÃ MAN

Thương thay cái kiếp OSHIN

Một phường ăn bám, một phường hại dân

“Nợ vay” là của người ta

Bất lương chạy mất OSHIN thế vào!

Mau mau tỉnh mộng mau mau

Đến ngày chiến bại còn gì than oan!

Tóm lại một điều, hệ thống pháp luật VN , nói thì rất ghê gớm nhưng thật sự nó chỉ là cỗ máy giết người hết sức tùy tiện núp dười chiêu bài KHOA HỌC , trước để lừa mị gom tiền trợ cấp cuả các nước bỏ vào túi riêng của một số người, lợi dụng những tên gọi của luật pháp các nước đem về “xào nấu lại” gọi là “vận dụng” vào hoàn cảnh – giải thích một cách tùy tiện sao cho có lợi cho AI ĐÓ núp bóng OSHIN “Thẩm Phán”
 

Đừng hoảng vì lạm phát cao


 - Nhiều nhà kinh tế cho rằng, lạm phát 4 tháng đầu năm lên tới gần 10% - mức khá cao - nhưng đừng vì thế mà hoảng sợ. Bởi vì, chống lạm phát là một câu chuyện trường kỳ. Điều quan trọng là chúng ta nhận thức và dám đối mặt để xử lý nó.
Hiệu ứng giá thị trường
Dường như có một nghịch lý: cùng với việc thực thi các biện pháp chính sách tiền tệ và tài khóa thắt chặt để chống lạm phát, hướng tới ổn định vĩ mô thì các cơ quan quản lý lại liên tiếp điều chỉnh giá cả các mặt hàng đầu vào quan trọng của nền kinh tế theo mộ "lộ trình giá thị trường, tạo ra sự hợp lý trong các quan hệ của nền kinh tế. Mục tiêu nhằm đưa nền kinh tế vận hành theo quy luật thị trường.
Giá thị trường là một lộ trình thực hiện đã được ấp ủ và từng bước thực hiện. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, "lộ trình" này liên tục bị trì hoãn hoặc thực hiện một cách không liên tục. Có nhiều lý do, nhưng quan trọng nhất là tình hình kinh tế bất ổn và lạm phát tăng cao.
Trong khi giá cả thế giới lên mạnh, lạm phát trong nước tăng cao thì việc trì hoãn tăng giá đã tạo ra sự dồn nén cho giá cả nhiều mặt hàng và gây ra những bất hợp lý trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, sức chịu đựng của ngân sách và nền kinh tế có hạn, đến lúc sự dồn nén đó quá sức chịu đựng thì việc tăng giá đã được đặt ra. Mỗi mặt hàng đều có kế hoạch điều chỉnh của mình và dần dần được thực hiện.
Nhưng có lẽ chưa bao giờ người dân cảm nhận sự điều chỉnh một cách dồn dập như trong những tháng đầu năm 2010.
Đầu tiền là điện tăng giá 15%, rồi xăng dầu hai lần tăng giá với mức tổng cộng 5.200 đồng/lít đã đưa xăng dầu lên mức giá cao nhất từ trước đến nay. Mới đây nhất, than cũng âm thầm tăng giá từ 20-40%... Đó là chưa kể trước đó, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tăng tỷ giá mới mức 9,3%.
Sau mỗi lần tăng giá như thế, các cơ quan quản lý đều tính toán mức tác động của điều chỉnh lên giá cả lên lạm phát một cách khá chi tiết và rõ ràng.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, mức đánh giá đó là không sai nhưng mới chỉ là tác động tức thì ở "vòng 1", chưa tính đến mức tăng giá qua nhiều "vòng khác" đối với giá cả hàng hóa theo kiểu "vòng xoáy". Điều đó khiến cho giá cả đồng lên tăng và tăng theo kiểu dây chuyền, với mức càng về sau càng cao.
Thực tế cho thấy, sau khi điện tăng giá, lập tức nhiều mặt hàng điều chỉnh theo. Đầu tiên là các hàng hóa vật liệu xây dựng - nơi sử dụng lượng điện năng lớn; rồi hàng loạt hàng hóa công nghiệp và tiêu dùng khác điều chỉnh lên theo giá điện.

Từ đầu năm đến nay đã hai lần điều chỉnh giá xăng tăng (ảnh giadinh)
Hay như giá xăng tăng, lập tức giá vận tải ăn theo. Chi phí vận tải tăng khiến đầu vào của hàng loạt mặt hàng buộc phải tính toán lại để điều chỉnh. Bên cạnh đó, nhiều ngành sản xuất như nông nghiệp, thủy sản cũng bị ảnh hưởng bởi giá xăng dầu... thế là xăng dầu trở thành lý do để tất cả cùng tăng giá. Cũng như thế, sau khi than tăng giá, lập tức hóa chất, giấy và xi măng đã điều chỉnh...
Cứ như thế, vòng xoáy tăng giá tiếp tục với những mặt hàng và dịch vụ khác lần lượt điều chỉnh khiến nền kinh tế có một mặt bằng giá mới. Đó chưa kể là những hiệu ứng tâm lý và các hoạt động ăn theo, lợi dụng để đẩy giá cả lên cao.
Lạm phát tăng 10% - trong bất cứ trường hợp nào đều là một mức cao. Điều này sẽ tác động tiêu cực đến đời sống người dân. Nhưng 10% dường như cũng đã là một mức khá quen thuộc của nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua, và người dân và DN đã hình thành một thới quen ứng phó với biến động giá cả và bất ổn của nền kinh tế.
Hơn thế, việc tăng giá dồn dập mà nhiều người gọi là "buông giá" là điều bất khả kháng, không chỉ vì nhà nước không thể bao cấp giá, mà trước hết là những bất hợp lý đến từ giá cả của nền kinh tế đã đến lúc không thể cầm giữ lâu hơn.
Đặc biệt hơn, với một cơ chế giá còn nhiều bất hợp lý đã khiến mọi điều hành kinh tế trở nên khó khăn và thiếu hiệu quả.
Tăng giá theo thị trường, hay nói cách khác, là chấp nhận buông giá có thể đã tạo ra một cú sốc cho toàn bộ nền kinh tế. Nó như một phản ứng ngược chiều trong điều kiện mục tiêu chống lạm phát được đặt lên hàng đầu.
Tuy nhiên, đó lại như là một tiền đề cần thiết để có được cơ sở cho nhưng điều chỉnh khác. Đó có thể xem là lát cắt để dứt điểm với những tồn tại cơ chế giá cũ nhưng mở đầu cho một cơ chế thi trường hơn.
Niềm tin và cái nhìn dài hạn
Lạm phát tăng cao trong những tháng đầu năm 2011 - điều đã được nhìn nhận và dự đoán. Đó là tác động từ chính những điều chỉnh giá cả các mặt hàng quan trọng, nhưng cũng là hậu quả từ một quá trình phát triển kinh tế nóng trước đó để lại. Vì thế, dù rất muốn nhưng việc chặn lạm phát không thể sớm có kết quả chỉ sau 1-2 tháng thực thi.
Vì thế, trong một bình luận gần đây là dự báo lạm phát năm 2011, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TƯ Nguyễn Đình Cung đã nói: "Lạm phát năm nay nhiều phần trăm không quan trọng bằng việc những chính sách, biện pháp hợp lý được thực hiện với một quy mô nhất định, rõ ràng, nhất quán, để bắn tín hiệu ra thị trường".
Người dân nên quen với một mặt bằng giá mới (ảnh bantintaifhinh)
Nếu bây giờ tuyên bố lạm phát 7%, có thể người dân sẽ không tin bằng việc có một giải pháp hợp lý theo đánh giá của thị trường, chứ không phải theo đánh giá của cơ quan quản lý.
Đồng quan điểm này, nhiều chuyên gia nhấn mạnh, chống lạm phát theo Nghị quyết 11 chỉ mới là bước khởi đầu cho một quá trình dài hạn, đó là quá trình tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế. Nếu không có khởi đầu này thì sẽ khó mà thực hiện được những bước tiếp theo.
Trong bước khởi đầu này, thắt chặt tài khóa, giảm bội chi ngân sách là nhiệm vụ ưu tiên. Tuy nhiên, đi cùng với chống lạm phát luôn và đòi hỏi ổn định kinh tế vĩ mô. Điều quan trọng là cần phải thực hiện các giả pháp đó một cách quyết liệt, và hơn nữa, tạo một niềm tin trong dân chúng với ý nghĩa rằng: từ đây trở đi sẽ có một thay đổi căn bản trong quan điểm phát triển và quản lý. Khi đó sẽ mang lại hy vọng về một thời kỳ tăng trưởng ổn định và bền vững.
Tuy nhiên, chống lạm phát là một quá trình chứ không thể 6 tháng, hay một năm như năm 2010 như bài học của năm 2010. Hơn thế, ổn đinh vĩ mô, tái cơ cấu nền kinh tế càng đòi hỏi cả một chiến lược dài hạn mà "dục tốc bất đạt".
Trong bối cảnh hiện nay, Nghị quyết 11 đúng là tất yếu phải lựa chọn. Tuy nhiên, từ nhận thức đúng cho đến thực hiện đúng, và cuối cùng để đạt được mục đích dài hạn là một hành trình đầy thách thức có thể phải chấp nhận sự sự đánh đổi. Mà những cú sốc về tăng giá hiện nay cũng là một phần của quá trình đó. Mục tiêu đã rõ, phương pháp đã có, vấn đề còn lại là liệu lượng, lộ trình thực hiện để thực hiện.
Điều quan trọng nhất để đạt được điều này là chính sách phải nhất quán và kiên định. Hiệu quả của chính sách phụ thuộc rất lớn vào niềm tin của thị trường. Nhưng để có được niềm tin đó thì chính cơ quan điều hành phải tạo ra niềm tin bằng chính hành động của mình. Trước hết, đó chính là niềm tin vào khả năng kiểm soát lạm phát của cơ quan chính sách, các kỳ vọng lạm phát đã được hình thành ngay từ giai đoạn đầu của một kỳ kinh tế.
Việt Nam đã có những bài học rất rõ ràng về vấn đề này trong kiểm soát lạm phát thời gian qua dẫn tới việc thị trường không tin vào chính sách điều hành. Vì thế, điều quan trọng là nhìn về dài hạn để có niềm tin là điều cần thiết lúc này.